Bệnh viêm phổi trên đàn bê sữa

Viêm phổi hay còn gọi là hội chứng hô hấp trên bò (Bovine respiratory disease -  BRD), là nguyên nhân thường gặp thứ 2 gây chết trên bê. Vì so với thú khác, phổi của bê chiếm tỉ lệ nhỏ so với kích thước cơ thể , vì vậy khi tổn thương phổi vĩnh viễn ở một mức độ nào đó sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển của bê. Bê thường bị viêm phổi nhất khi bị stress (cai sữa, khử sừng, thiến, di chuyển). Khi bê bị stress thì miễn dịch cơ thể hạ thấp tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn phát triển gây ra bệnh. Viêm phổi là bệnh tốn kém vì nó làm giảm tăng trọng và tăng chi phí điều trị, do vậy phòng bệnh viêm phổi là lựa chọn tốt nhất để nuôi bê vượt trội.

Nguyên nhân

* Các yếu tố mở đường

            Do bê uống thiếu sữa đầu. Việc cho bê uống sữa đầu là rất quan trọng. Sữa đầu chứa nhiều kháng thể và chất dinh dưỡng rất cần thiết cho bê mới sinh vì hệ miễn dịch của bê chưa hoàn thiện để tự sản xuất kháng thể chống lại bệnh. Nếu không có sữa đầu, bê dễ bệnh viêm phổi và tiêu chảy, việc điều trị cũng sẽ gặp khó khăn do bê không có sức đề kháng hỗ trợ.

            Chuồng nuôi ẩm ướt khiến bê bị lạnh phải sử dụng năng lượng để duy trì thân nhiệt dẫn đến việc suy giảm sức đề kháng, hơn nữa các loại vi khuẩn, virus dễ dàng cư trú sinh trưởng trong môi trường ẩm ướt, từ đó sẽ tăng nguy cơ xâm nhập vào phổi bê. Chuồng nuôi không thông thoáng làm tích tụ các loại khí độc dẫn đến kích ứng đường hô hấp của bê, từ đó làm suy giảm khả năng phòng thủ của đường hô hấp, dễ dẫn đến sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp.

Nhìn chung đây là những yếu tố mở đường cho sự xâm nhập của vi khuẩn và virus đối với bệnh viêm phổi trên bê.

* Viêm phổi do virus

Hầu hết viêm phổi do virus hiếm khi gây chết bê, nhưng chúng làm hỏng niêm mạc phổi và làm giảm chức năng miễn dịch từ đó cho phép vi khuẩn gây bệnh có ở môi trường xung quanh xâm nhập vào trong phổi. Virus thường ảnh hưởng đến các thùy trên của phổi. Một số loại virus thường gây viêm phổi:

Bovine herpes virus (còn được gọi là viêm xoang mũi truyền nhiễm, hay fectious bovine rhinotracheitis virus – IBR). Bê có thể hồi phục sau khi bị viêm phổi nhưng virus vẫn ẩn trong mũi trong suốt quãng đời còn lại của bê và sẽ hoạt động trở lại khi bê bị stress, do đó lây nhiễm cho gia súc khác.

Bovine viral diarrhea (BVD) type 1, type 2. Bê con bị nhiễm BVD trước khi chúng được sinh ra được gọi là bê nhiễm trùng dai dẳng (PI) và sẽ thải virus liên tục trong suốt cuộc đời. Bê bệnh nhìn rất khoẻ mạnh nhưng lại liên tục bài thải virus ra môi trườngBovine parainfluenza type 3 (PI3). Gây ra các dấu hiệu hô hấp nhẹ nếu không có tác nhân lây nhiễm khác nhưng dễ bị viêm phổi do vi khuẩn thứ phát.

Bovine respiratory syncytial virus (BRSV), Hội chứng hô hấp trên bò do virus hợp bào. BRSV gây viêm phổi cấp tính và nghiêm trọng. Gia súc có thể bị tái nhiễm nhiều lần trong suốt cuộc đời của chúng, vì khả năng miễn dịch ngắn.

* Viêm phổi do vi khuẩn

            Đa số vi khuẩn gây viêm phổi thường cư trú ở mũi bê nhưng không gây bệnh, tuy nhiên khi hệ miễn dịch suy yếu vi khuẩn sẽ xâm nhập vào phổi. Vi khuẩn thường ảnh hưởng thùy dưới của phổi. Một số vi khuẩn gây viêm phổi trên bê:

            Mannheimia haemolytica (thường được gọi là Pasteurella haemolytica): vi khuẩn gây viêm phổi nhiều nhất trên bê được nuôi vỗ béo. Viêm phổi nghiêm trọng, nhanh và dễ chết; nếu bê sống sau khi bị nhiễm lần đầu tiên, chúng thường bị viêm phổi mãn tính. Phổi thường được phủ trong một lớp phim mỏng màu vàng, và thể tích phổi bị làm đầy với một lượng lớn dịch màu vàng.

Histophilus somni (thường được gọi là Haemophilus somnus). Cũng gây lây nhiễm ở não và khớp. Phổi bệnh thường có màu đỏ và dầy với những túi mủ lớn.

Pasterella multocida:  Vi khuẩn thường gặp nhất gây viêm phổi trên bê sữa. Phổi thường có màu đỏ và dày với những túi mủ lớn.

Mycoplasma bovis: Cũng gây viêm phổi và viêm tai giữa. Đáp ứng điều trị lâm sàng kém với kháng sinh thông thường. Phổi thường có nhiều nốt mủ nhỏ nổi lên bề mặt.

Triệu chứng

Sốt trên 39,7 oC.

Bê lừ đừ, không nhanh nhẹn, ít quan tâm đến mọi thứ xung quanh, thường hay đứng hoặc nằm riêng khỏi đàn. Bê gục đầu, cổ vươn dài, tai bê sụp 1 bên hoặc 2 bên. Bê có thể chảy nước mắt hoặc có dữ ghèn khi viêm phổi.

            Bê chảy nước mũi, dịch mũi lúc đầu sạch và loãng sau trở nên đặc và giống mũ là dấu hiệu bệnh tiến triển.

(Washington State University)
(UW Milk Quality)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 1: Bê bệnh (trái) lừ đừ, tai sụp, chảy nước mũi đục (trái) và bê khỏe (phải) lanh lẹ, tai dỏng, mắt mũi sạch sẽ.

(Irish Farmers Journal)
(Farm Health Online)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 2: Bê bệnh (trái) cổ vươn dài, đầu gục và bê khỏe (phải) dáng đứng bình thường

Tăng tần số hô hấp, bê thở mạnh, có tiếng ồn.

            Bê ho, lúc đầu tiếng ho còn khỏe, dài về sau khi tình trạng viêm phổi nặng dẫn đến thể tích chứa khí của phổi giảm dần dẫn đến tiếng ho yếu, ngắn.

            Trong suốt giai đoạn sớm của nhiễm trùng viêm phổi có thể khó phát hiện. Nhiệt độ cao lên là dấu hiệu đầu tiên của bệnh và thường xảy ra từ 12 – 72 giờ trước khi dấu hiệu lâm sàng xuất hiện.

Lợi ích của việc phát hiện sớm bệnh viêm phổi trên bê

            Việc phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị viêm phổi bê thì được coi mang lại nhiều lợi ích:

            Tăng cường đáp ứng với điều trị và giải quyết nhanh chóng các dấu hiệu lâm sàng;

            Giảm bớt sự hư hại của phổi và nguy cơ phát triển bệnh mãn tính;

            Giảm tỷ lệ tái phát;

            Giảm phát tán mầm bênh và những ca bệnh mới;

            Giảm sự ảnh hưởng của viêm phổi lên tăng trưởng về sau và sức sản xuất.

Điều trị

            Việc phát hiện sớm là điểm then chốt quyết định khả năng điều trị khỏi bệnh cho bê viêm phổi.

Nguyên tắc là phải sử dụng kháng sinh càng nhanh càng tốt khi nghi ngờ bê bị bệnh 

mô phổi. Lựa chọn kháng sinh dựa vào tình hình thực tế tại trại, dựa vào kinh nghiệm hoặc có thể lấy mẫu bệnh phẩm viêm phổi để thực hiện kháng sinh đồ. Một số loại kháng sinh có thể sử dụng như: tetracyline, gentamycine, tylosin, Tulathromycine…

Khi số lượng nhu mô phổi bị phá hủy quá nhiều thì điều trị không còn hiệu quả. Nên tiếp tục phác đồ điều trị và theo dõi trong ít nhất 48 giờ sau khi những triệu chứng viêm phổi biến mất.

Phòng bệnh

            Bê con cần được nuôi dưỡng, chăm sóc trong môi trường sạch sẽ, khô ráo và được cho uống sữa đầu hoặc chất thay thế sữa đầu đầy đủ và đúng thời điểm.       

Hình 3: Bê mới inh được nhốt riêng trong lồng gỗ, có đèn sưởi ấm.

Bê cần không khí trong lành và không có gió lùa mọi lúc, luôn giữ chuồng nuôi mát mẻ, và thông thoáng.

Áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, sổ ký sinh trùng đường ruột, tiêm vitamin A, D, E, uống thuốc phòng cầu trùng bê  để tăng cường sức đề kháng cho bê

Tránh stress nhiều nhất có thể. Chia cách nhân tốt gây stress (như là cai sữa, di chuyển, khử sừng, thiến) bởi ít nhất một tuần.

Tiêu độc chuồng trại định kỳ (khoảng 7 ngày 1 lần hoặc 3 ngày 1 lần khi có nhiều bê bị bệnh). Sử dụng các sản phẩm vi sinh hạn chế mùi hôi trong trại chăn nuôi.

Tài liệu kham khảo

  1. Kinh nghiệm thực tế tại Công ty Bò Sữa TP. Hồ Chí Minh.
  2. https://www.dairyherd.com/article/pneumonia-dairy-calves
  3. https://animart.com/files/Calf%20PneumoniaDualTechBulletin_0.pdf
Zalo