Trồng ngô làm thức ăn cho đàn bò sữa

1. Giá trị dinh dưỡng toàn thân cây ngô trong các giai đoạn khác nhau

Đặc điểm mẫu

Chất khô

% Chất khô

Protein thô

Xơ thô

Tro

Lipid

Dẫn xuất không đạm

Tươi, 8 tuần (Israel)

15,7

8,9

31,2

10,2

1,9

47,8

Tươi, 10 tuần, (Israel)

21,9

10,9

31,5

8,7

1,4

48,4

Tươi, giữa ra hoa (Puerto Rico)

23,8

9,6

30,9

6,0

4,3

49,3

Tươi, giai đoạn sữa (Tanzania)

17,0

6,8

28,1

7,4

0,9

54,8

Tươi, cả cây, chín sữa (Malaysia)

16,0

11,3

29,4

8,1

1,9

49,3

Tươi, chỉ thân, chín sữa (Malaysia)

13,0

7,7

46,2

8,5

0,8

36,8

Thân khô (Nam Phi)

-

6,3

36,0

7,4

1,3

50,3

Ủ Silo, chín sữa (Tanzania)

-

6,5

31,9

5,0

3,3

53,3

 

                                                                                                                        (FAO, 1993)

            Qua bảng trên cho thấy cây ngô thu hoạch làm thức ăn cho đàn bò sữa vào giai đoạn cây chín sữa cho vật chất khô cao và Protein thô cao nhất

2. Đặc điểm của các giống ngô thu sinh khối làm thức ăn cho bò sữa

2.1 Đặc điểm khác nhau giữa ngô sinh khối và ngô lấy hạt

Bộ phận

Ngô làm thức ăn xanh

Ngô sản xuất lấy hạt

Thân cây

Năng suất cao, mềm, vỏ thân mỏng

Ngô sản xuất lấy hạt Năng suất thấp hơn , thân chắc , vỏ thân dày , cứng

Nhiều lá phía trên bắp, lá rộng

Ít lá phía trên bắp , lá gọn

Bắp

Đóng bắp thấp, nhiều bắp khi trồng ở mật độ vừa phải

Đóng cao hơn , không có hiện tượng đa bắp ở mật độ vừa phả

Hạt

Hạt mềm để tối ưu hoá khả năng tiêu hoá trong hệ tiêu hoá của gia súc

Hạt cứng để dễ sơ chế và bảo quản lâu dài trong kho sau thu hoạch

Gân lá

Gân giữa lá màu nâu

Không quan tâm

                                                                                                (Pordesimo và Endens, 2004)

2.2 Thời gian thu hoạch ngô sinh khối làm thức ăn cho  bò sữa

            Trồng ngô sinh khối làm thức ăn cho gia súc có thời gian thu hoạch sớm (75 -90 ngày ) tùy vào loại giống nên trong một năm có thể trồng đến 3 vụ thu hoạch ngô vào giai đoạn chín sáp cho năng suất chất khô và Protein thô cao. Cây ngô lúc này có đầy đủ sinh dưỡng nên khi bò sữa ăn thức ăn này sẽ cho năng suất sữa tốt nhất

            Theo Garcia (2013), đối với giống ngô thu hoạch sinh khối làm thức ăn thô xanh cho gia súc nên chọn các giống ngô có các đặc điểm thích hợp với điều kiện khí hậu, cho năng suất chất khô cao, màu xanh của bộ lá được duy trì đến lúc thu hoạch, có năng suất hạt cao (trong hạt có chứa 70% năng lượng trao đổi, nhiều hơn so với năng lượng trao đổi trong thân và lá ngô), thích hợp với mật độ trồng dày, hàm lượng chất khô trong thân lá và trong hạt cao.

            Thời gian thu hoạch các giống ngô lấy toàn bộ các bộ phận cây ngô làm thức ăn cho gia súc ngắn hơn so với giống ngô lấy hạt khoảng 20 đến 25 ngày. Theo Chad. D Lee (2005), khuyến cáo ngô thu sinh khối làm thức ăn cho bò sữa hợp lý nhất là giai đoạn hạt ngô chín sáp được 2/3 hạt, còn khoảng 1/3 chín sữa của hạt. Cùng kết quả trên, theo kết quả nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn (2000), giai đoạn ngô chín sáp cho trọng lượng tươi và khối lượng khô cao nhất trong các giai đoạn nghiên cứu

2.3 Lựa chọn giống ngô thu sinh khối làm thức ăn cho bò sữa

            Việc lựa chọn giống ngô lai có năng suất cao là quyết định quan trọng đến trong sản xuất ngô ủ chua làm thức ăn cho gia súc và giúp chúng ta có thể tăng sản lượng năng suất sinh vật học trên đơn vị diện tích (Lee, 2005).

Tại Úc , tài liệu hướng dẫn khuyến cáo lựa chọn giống ngô sinh khối ( Dairy Australia , 2018 ) đã được công bố . Các giống ngô lai để trồng làm ngô sinh khối cần phải lựa chọn theo các tiêu chí : 1). Phát triển liên tục trong suốt mùa vụ (năng suất tối đa chất khô/ha ); 2). Duy trì tỷ lệ lá xanh cao cho đến lúc thu hoạch ; 3). Năng suất hạt tốt, có chứa hơn 70 % năng lượng trao đổi ( ME ) và mức carbonhydrate cao hơn các bộ phận xanh của cây; 4). Chịu được trồng mật độ tương đối dày; 5). Năng suất chất khô cao cũng như năng suất hạt cao, 6). Giống ngô lai nên được chọn có tính chống chịu đổ ngã , kháng bệnh thối rễ và thối thân , cũng như khả năng kháng bệnh khác thường gặp : Cây ngô nên được trồng từ hạt giống thế hệ đầu tiên đã được xử lý bằng thuốc diệt nấm và thuốc diệt côn trùng.

            Tại Việt Nam có một số đề tài nghiên cứu về trồng bắp sinh khối làm thức ăn cho đàn bò như: Phan Tiếng Tân (2014) đã thử nghiệm 4 giống ngô SSC 586, CP 989, Bioseed 9698, LVN 10. Các giống ngô được trồng với mật độ 57.000 cây/ha, bón phân theo công thức (cho 1 ha): 150 N – 90 P205 – 90 K20, lượng phân hữu cơ vi sinh dùng để bón lót 1 tấn/ha, kết quả nghiên cứu đã chọn được giống ngô CP 989 cho năng suất sinh khối cao nhất với 48,59 tấn/ha.

Tài liệu tham khảo:

1. FAO, 1993. Thức ăn gia súc nhiệt đới

2. Chad D. Lee, James H. Herbek, Garry Lacefi eld, and Ray Smith, 2005.  Producing Corn for Silage. Materials developed by University of Kentucky Cooperative Extension, 8 pp.

3. Phan Tiếng Tân, 2015. Xác định giống, mật độ trồng và lượng phân đạm hợp lý cho cây ngô (Zea mays L.) lấy sinh khối tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông lâm, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

4. Yani Garcia, 2013. Growing maize for silage . Special Report No. 48, Iowa State University.

5. Pordesimo, L.O., W.C.Edens, S., 2004. Distribution above ground biomass in corn stover. Biomass and Bioenery 26 (4): 337 - 343

 

Bài, ảnh: Đức Hào

Zalo